
Ảnh: Bò cái
– Tên thường gọi: Bò tót.
– Tên gọi khác: Trâu rừng Ấn Độ, Bò rừng châu Á, Trâu rừng lớn.
– Tên tiếng anh: Gaur.
– Tên khoa học: Bos gaurus.
– Tên Đồng danh: Bos laosiensis, Bos frontalis, Bos sondaicus.
– Họ: Trâu bò (Bovinae).
– Bộ: Guốc chẵn (Artiodactyla).
– Tình trạng bảo tồn: Sắp nguy cấp (VU – Vulnerable) theo IUCN 2025; và Nguy Cấp (EN – Endangered) theo SĐVN 2024.
– Đặc điểm nhận dạng:
Thân dài từ 2500 – 3000 mm, cao 1700 – 2000m. Trọng lượng từ 900 – 1000 kg.
Đầu to, trán dẹt hơi lõm, có đốm lông trắng trên trán, đỉnh trán giữa hai sừng dô cao. Sừng to khoẻ cân đối, uốn cong lên phía trên tạo vòng cung hình bán nguyệt. Gốc sừng màu vàng xám, mút sừng nhọn đen bóng. Lớp da ở cổ và trước ngực không tạo thành yếm. Bộ lông ngắn mềm mượt màu nâu thẫm hoặc đen xám hơi phớt xanh bóng ở lưng. Lông ở bụng dài màu nâu nhạt. Con cái thường có màu hung đỏ. Mông đen, bốn chân từ khuỷu trở xuống màu trắng bẩn. Đuôi dài màu đen.
– Sinh học và sinh thái:
Môi trường sống: Nơi sinh sống của bò tót là rừng già thường xanh, rừng khộp, rừng hỗn giao tre nứa, rừng thứ sinh địa hình tương đối bằng ở độ cao 500 – 1500m.
Thức ăn: Chủ yếu là cỏ, mầm lá non của lau sậy, chuối rừng, măng non tre và một số loài thực vật khác. Hoạt động kiếm ăn cả ngày và đêm.
Sinh sản: thường vào tháng 6, 7. Mỗi năm đẻ 1 lứa, mỗi lứa 1 con. Thời gian mang thai từ 270 – 280 ngày. Sống thành từng đàn 5 – 10 con (có đàn tới 20 – 30 con) đôi khi cũng gặp những cá thể sống đơn lẻ.
– Phân bố:
Thế giới: Ấn Độ, Nêpan, Mianma, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaixia.
Việt Nam: Lai Châu, Sơn La, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Huế, Quảng Ngãi, Bình Định, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Đồng Nai.

Ảnh: Bò đực
