GIAI ĐOẠN ĐẦU

Khu DTSQ thế giới Đồng Nai được UNESCO công nhận vào ngày 29 tháng 6 năm 2011, trên cơ sở Khu DTSQ thế giới Cát Tiên (2001) mở rộng, với diện tích 969.993 ha trải rộng trên địa bàn 5 tỉnh là Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Dương, Bình Phước và Đắc Nông, gồm ba vùng chức năng: Vùng lõi 173.073 ha; vùng đệm 349.995 ha và vùng chuyển tiếp 446.925 ha. Trong bài viết này, tôi chỉ đề cập sâu đến vùng lõi; vì nó chứa đựng nhiều yếu tố, nội dung quan trọng liên quan đến lịch sử, văn hóa và khoa học. Vùng lõi Khu DTSQ thế giới Đồng Nai có hai hợp phần là Vườn Quốc gia (VQG) Cát Tiên và Khu Bảo tồn

GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH

Sau khi nước nhà thống nhất, một khu rừng tự nhiên giàu đẹp nằm về phía Bắc sông Đồng Nai được Bộ Quốc phòng giao cho Sư đoàn 600 quản lý để xây dựng kinh tế. Trong một lần cố Tổng Bí thư Lê Duẩn ghé thăm Sư đoàn 600 đã nhận thấy giá trị của khu rừng nên yêu cầu Sư đoàn 600 cùng tỉnh Đồng Nai phải quản lý, bảo vệ. Từ đó, khu rừng này đã được đưa vào dạng rừng được quản lý bảo vệ.
Thực hiện tinh thần chỉ đạo của cố Tổng Bí thư Lê Duẩn, tỉnh Đồng Nai và các bộ ngành liên quan đã xây dựng hồ sơ đệ trình và đã được Chính phủ cho phép thành lập Rừng cấm Nam bãi Cát Tiên theo Quyết định số 360 – TTg ký ngày 07 tháng 7 năm 1978 với diện tích 39.545 ha nằm trên địa phận huyện Tân Phú và Vĩnh Cửu của tỉnh Đồng Nai. Sau khi có quyết định của Chính phủ, tỉnh Đồng Nai giao cho Chi cục Kiểm lâm làm việc với Sư đoàn 600 để dần tiếp quản phần diện tích rừng này. Đến năm 1986, tỉnh Đồng Nai thành lập Ban Quản lý Rừng cấm Nam bãi Cát Tiên, giao Chi cục kiểm lâm tổ chức bộ máy để quản lý, bảo vệ toàn bộ diện tích Rừng cấm Nam bãi Cát Tiên.
Với giá trị đa dạng sinh học cao nên các cơ quan chuyên môn và các nhà khoa học đã đề nghị tỉnh Đồng Nai, Bộ Lâm nghiệp kiến nghị và đã được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) đồng ý cho phép thành lập VQG Cát Tiên theo Quyết định số 08CP ngày 13 tháng 01 năm 1992. Trong Quyết định này điều 1 có ghi: Thành lập Vườn Quốc gia Cát Tiên trực thuộc Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai trên cơ sở “Rừng cấm Nam bãi Cát Tiên” theo Quyết định số 360-TTg ngày 7 tháng 7 năm 1978 của Thủ tướng Chính phủ và phần mở rộng thuộc địa phận của tỉnh Lâm Đồng và Sông Bé. (tỉnh Sông Bé nay đã tách thành 2 tỉnh Bình Dương và Bình Phước).
Để tiếp tục thực hiện tinh thần chỉ đạo đã ghi trong điều 1 của Quyết định số 08-CP, Bộ Lâm nghiệp đã làm việc với UBND tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Phước về việc mở rộng diện tích VQG Cát Tiên. Ngày 16 tháng 02 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 38/1998/QĐ-TTg về việc mở rộng VQG Cát Tiên thuộc tỉnh Đồng Nai về phía tỉnh Lâm Đồng, Bình Phước và chuyển giao VQG Cát Tiên về Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN và PTNT) quản lý với tổng diện tích 73.878 ha, bao gồm khu Nam Cát Tiên thuộc tỉnh Đồng Nai là 38.100 ha; Khu Tây Cát Tiên thuộc tỉnh Bình Phước là 5.143 ha và Khu Cát Lộc thuộc tỉnh Lâm Đồng là 30.635 ha.
Ngày 19 tháng 8 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 173/2003/QĐ-TTg điều chỉnh ranh giới VQG Cát Tiên với diện tích sau điều chỉnh là 70.548 ha. Ngày 11 tháng 7 năm 2011, Bộ NN và PTNT đã ban hành Quyết định số 1535/QĐ-BNN-TCLN duyệt Dự án quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững VQG Cát Tiên giai đoạn 2010-2020 với diện tích điều chỉnh mới là 71.350 ha.
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2013 -2016, sau khi các tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng và Bình Phước thực hiện kiểm kê rừng, diện tích VQG Cát Tiên là 71.187,9 ha. Hiện nay Bộ NN và PTNT đang trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt mở rộng diện tích VQG Cát Tiên là 82.597,4 ha (dự kiến mở rộng sang lâm phần của Công ty Lâm nghiệp La Ngà là 11.409,4 ha) Do chuyển tiếp từ cuối phía Nam của dãy Trường Sơn xuống vùng đồng bằng Đông Nam Bộ và được quản lý bảo vệ rất sớm nên VQG Cát Tiên có nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, chứa đựng nhiều giá trị đa dạng sinh học. Từ sau thành lập, VQG Cát Tiên có nhiều cố gắng, nỗ lực để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, đã có nhiều công trình, đề tài thành công ghi dấu ấn trong lịch sử bảo tồn. Để khẳng định những giá trị đó, VQG Cát Tiên đã được các tổ chức quốc gia và quốc tế công nhận các danh hiệu:
Khu DTSQ thế giới Cát Tiên do UNESCO công nhận ngày 10 tháng 11 năm 2001, là Khu DTSQ thứ 411 của thế giới và là Khu DTSQ thứ 2 của Việt Nam.
Khu đất ngập nước Bàu Sấu được Ban Thư ký Công ước Ramsa công nhận vào ngày 04 tháng 8 năm 2005. Đây là vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt là nơi đã tổ chức khôi phục thành công được loài cá sấu nước ngọt ngoài tự nhiên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2012 được Chính phủ xếp hạng là Khu Di tích quốc gia đặc biệt.
Ngày 21 tháng 6 năm 2004 được Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) công nhận Danh lục Xanh, VQG Cát Tiên là Khu bảo tồn thứ 72 trên thế giới và là Khu bảo tồn đầu tiên của Việt Nam vinh dự nhận danh hiệu này.
Bản đồ hiện trang năm 2020 vườn quốc gia Cát Tiên

QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN – VĂN HOÁ ĐỒNG NAI

Vào cuối những năm 1970 và đầu năm 1980 tỉnh Đồng Nai thành lập ba lâm trường phía Bắc sông Đồng Nai gồm có Lâm trường Vĩnh An, Lâm trường Mã Đà và Lâm trường Hiếu Liêm để thực hiện nhiệm vụ khai thác lâm sản góp phần xây dựng đất nước. Ngoài việc khai thác, chế biến lâm sản, các lâm trường còn thực hiện trồng rừng cây nguyên liệu giấy phục vụ cho Nhà máy giấy Tân Mai mở rộng.

Đến năm 1997, lãnh đạo tỉnh Đồng Nai có chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên, các lâm trường chuyển sang hoạt động trồng rừng, xây dựng các làng lâm nghiệp nhằm ổn định đời sống cho cán bộ công nhân. Do không còn nguồn thu từ khai thác lâm sản nên các lâm trường được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Việc dùng ngân sách chi cho hoạt động các lâm trường không phù hợp với nguyên tắc tài chính, các khu rừng sản xuất cũng khó tiếp cận và nhận sự hỗ trợ kinh phí, chuyên môn từ các tổ chức quốc tế nên tỉnh Đồng Nai đã có chủ trương sáp nhập ba lâm trường Vĩnh An, Mã Đà, Hiếu Liêm, chuyển từ rừng sản xuất sang rừng đặc dụng.

Được sự ủng hộ từ Bộ NN và PTNT, UBND tỉnh Đồng Nai đã ban hành Quyết định số 4679/2003/ QĐ.UBT ký ngày 03 tháng 12 năm 2003 về việc thành lập Khu Dự trữ thiên nhiên (DTTN) Vĩnh Cửu trên cơ sở sáp nhập Lâm trường Mã Đà, Lâm trường Hiếu Liêm và một phần Lâm trường Vĩnh An, với diện tích 53.822 ha. Khu DTTN Vĩnh Cửu trực thuộc UBND tỉnh Đồng Nai và là khu rừng đặc dụng nằm trong Hệ thống Rừng Đặc dụng Việt Nam. Khu DTTN Vĩnh Cửu trong kháng chiến là căn cứ địa cách mạng, nhiều cơ quan cấp Trung ương, cấp vùng đã được thành lập và đóng quân tại đây. Thực hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn, để tri ân sự hy sinh của các thế hệ đi trước và để tạo cơ sở giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ mai sau, tỉnh Đồng Nai đã trùng tu các căn cứ cách mạng, đã đệ trình và được Trung ương công nhận 3 Di tích lịch sử cấp quốc gia, gồm Di tích Căn cứ Khu ủy miền Đông (1997); Di tích Địa đạo Suối Linh (1999) và Di tích Căn cứ Trung ương Cục miền Nam (2004). Ba di tích này được giao cho Trung tâm quản lý di tích Chiến khu Đ thuộc Sở VHTTDL quản lý. Để thuận lợi cho công tác quản lý rừng và di tích, ngày 20 tháng 02 năm 2006 UBND tỉnh Đồng Nai đã ban hành Quyết định số 09/2006/ QĐ.UBT về việc sáp nhập Trung tâm quản lý di tích Chiến khu Đ vào Khu DTTN Vĩnh Cửu và đổi tên thành Khu Bảo tồn thiên nhiên và di tích (BTTN và DT) Vĩnh Cửu.

Khu dự trữ sinh quyển thế giới Đồng Nai.

Khi thành lập Khu DTTN Vĩnh Cửu, Sở NN và PTNT có đề nghị giữ lại 6.552 ha, một phần diện tích Lâm trường Vĩnh An để thành lập Ban quản lý rừng phòng hộ Vĩnh An (thành lập theo Quyết định số 602/QĐ-UBND ngày 16 tháng 3 năm 2007) nhằm tạo nguồn nguyên liệu cho xưởng đũa, nơi có nhiều đồng bào dân tộc bản địa Chơro làm công nhân. Diện tích rừng của Ban quản lý rừng phòng hộ Vĩnh An nằm giữa VQG Cát Tiên với Khu BTTN và DT Vĩnh Cửu nên đã chia cắt hành lang đa dạng sinh học, làm ảnh hưởng sự đi lại của các loài thú, hơn nữa việc kinh doanh đũa tre cũng không hiệu quả. Từ những lý do trên nên vào ngày 27 tháng 6 năm 2008 UBND tỉnh Đồng Nai đã ban hành Quyết định số 2053/QĐ-UBND về việc sáp nhập Ban quản lý rừng phòng hộ Vĩnh An vào Khu BTTN và DT Vĩnh Cửu, nâng diện tích lên 60.374 ha. Sau khi sáp nhập, rừng không còn bị tác động và chia cắt nên thú từ VQG Cát Tiên đã quay trở lại Khu BTTN và DT Vĩnh Cửu, nơi trước đây đã từng là sinh cảnh sống của các loài thú móng guốc và voi như các địa danh Trảng Min, Suối Tượng, Đồi Tượng. Việc sáp nhập đã tạo ra vùng sinh cảnh sống rộng lớn, đa dạng giúp cho công tác bảo tồn thiên nhiên được tối ưu và bền vững.

Hồ Trị An là hồ nước ngọt lớn nhất miền Nam Việt Nam, được xây dựng từ năm 1984 trên cơ sở ngăn dòng sông Đồng Nai tại bậc thác thứ 9 cũng là bậc thác cuối cùng của dòng sông Đồng Nai, có diện tích 32.400 ha. Hồ Trị An được xây dựng nhằm mục đích cung cấp nước cho Nhà máy thủy điện Trị An, đồng thời cung cấp nước phục vụ nhu cầu sinh hoạt, sản xuất cho hơn 15 triệu cư dân vùng hạ lưu sông Đồng Nai. Để quản lý, khai thác và bảo vệ hồ Trị An, UBND tỉnh Đồng Nai đã thành lập Trung tâm Thủy sản Đồng Nai (được chuyển đổi theo Quyết định số 4751/QĐ.CT.UBT ngày 12 tháng 12 năm 2003), trực thuộc Sở NN và PTNT Đồng Nai. Do hồ Trị An là vùng sinh cảnh gắn liền với Khu BTTN và DT Vĩnh Cửu. Để tạo ra vùng sinh cảnh rộng lớn, đa dạng và toàn vẹn nên Khu BTTN và DT Vĩnh Cửu có lập Tờ trình số 234/TTr – KBT ngày 01 tháng 7 năm 2009 xin sáp nhập hồ Trị An vào Khu BTTN và DT Vĩnh Cửu. Ngày 16 tháng 7 năm 2009, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai đã ban hành Quyết định số 1977/QĐ-UBND về việc sáp nhập Trung tâm Thủy sản Đồng Nai vào Khu BTTN và DT Vĩnh Cửu, nâng tổng diện tích Khu BTTN và DT Vĩnh Cửu lên 92.774 ha.

Hồ Trị An có diện tích nằm trên địa bàn hành chính các huyện Vĩnh Cửu, Trảng Bom, Thống Nhất, Định Quán, Xuân Lộc do vậy sau khi sáp nhập hồ Trị An vào Khu BTTN và DT Vĩnh Cửu thì vấn đề đặt ra là phải xem xét lại tên gọi của Khu bảo tồn sao cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và địa bàn, hơn nữa ngoài giá trị thiên nhiên, di tích trong Khu Bảo tồn còn có các giá trị văn hóa của các đồng bào chung sống trong Khu bảo tồn. Từ những lý do trên nên Khu Bảo tồn đã đề xuất và đã được các sở ban ngành, địa phương ủng hộ thống nhất đề nghị tỉnh cho phép đổi tên. Ngày 27 tháng 8 năm 2010, UBND tỉnh Đồng Nai đã ban hành Quyết định số 2208/QĐ-UBND về việc đổi tên Khu BTTN và DT Vĩnh Cửu thành Khu Bảo tồn thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai (viết tắt là Khu Bảo tồn). Qua kết quả kiểm kê rừng toàn quốc, diện tích hiện nay của Khu Bảo tồn là 100.557,7 ha, tăng 7.783 ha là do có sự điểu chỉnh ranh giới và đặc biệt do sự khác biệt về phương pháp đo diện tích.

Sau nhiều lần sáp nhập và đổi tên, Khu Bảo tồn đã trở thành Khu bảo tồn duy nhất trong cả nước vừa quản lý diện tích rừng, đất lâm nghiệp, vừa quản lý diện tích đất ngập nước nội địa rộng lớn và đặc biệt quản lý ba di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia. Khu Bảo tồn hoạt động theo quy chế quản lý rừng đặc dụng và hoạt động theo quy chế bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, đồng thời tuân thủ Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Đa dạng siinh học, Luật Di sản văn hóa, Luật Thủy sản, Luật Phòng cháy chữa cháy, Luật Đất đai, Luật Du lịch, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Tài nguyên nước.

Với tiềm năng đa dạng sinh học, đa dạng văn hóa và được củng cố ổn định, hoạt động bài bản nên trong thời gian qua Khu Bảo tồn đã được công nhận các danh hiệu:

– Di tích Căn cứ Khu ủy miền Đông (1997)

– Di tích Địa đạo Suối Linh (1999)

– Di tích Căn cứ Trung ương Cục miền Nam (2004)

– Khu DTSQ thế giới Đồng Nai (2011) trên cơ sở Khu DTSQ thế giới Cát Tiên mở rộng.

Bản đồ hiện trạng rừng và đất lâm nghiệpnăm 2020 Khu Bảo tồn Thiên nhiên – Văn hoá Đồng Nai.

ĐƯỢC ĐÁNH GIÁ VÀ GHI NHÂN

Qua quá trình hình thành và phát triển, Khu DTSQ thế giới Đồng Nai được đánh giá là một trong mười một Khu DTSQ thế giới Việt Nam có nhiều thành công trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ và đã làm tốt ba chức năng bảo tồn,phát triển và hỗ trợ.

Chức năng bảo tồn: Ngoài quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng, còn khôi phục được loài cá sấu bản địa tại Bầu Sấu, đây là thành công lớn không những trong nước mà cả thế giới phải ngưỡng mộ. Đã bảo vệ, giám sát được một số loài thú lớn quý hiếm như voi châu Á, bò tót, hai loài này hiện nay đang tồn tại và phát triển bền vững.

Chức năng phát triển: Đã có nhiều dự án, chương trình từ nguồn vốn ngân sách nhà nước và tài trợ nước ngoài để giúp vùng lõi phát triển cơ sở hạ tầng, tăng cường thiết bị phục vụ công việc và nhất là góp phần ổn định đời sống dân cư trong vùng như xây dựng hệ thống thủy lợi, cung cấp giống, vật tư cây trồng vật nuôi, xây dựng các mô hình hộ nông dân sản xuất giỏi, tập huấn và hỗ trợ cho cộng đồng tham gia phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng.

Chức năng hỗ trợ: Đã phối hợp với các viện, trường, các tổ chức quốc tế, các nhà khoa học tham gia điều tra, nghiên cứu đa dạng sinh học, trong quá trình đó đã phát hiện nhiều loài mới, đã tạo điều kiện cho các nghiên cứu sinh, sinh viên, học sinh đến học tập, thực tập và thực hiện các đề tài luận án, đã có nhiều học viên cao học và nghiên cứu sinh thành công luận án của mình từ thư viện sống của vùng lõi Khu DTSQ thế giới Đồng Nai.

Với diện tích cảnh quan tự nhiên rộng hơn 170.000 ha, Khu DTSQ thế giới Đồng Nai được xem như là lá phổi xanh của vùng miền Đông Nam Bộ, là tài sản vô cùng quý giá của quốc gia, của dân tộc và của thế giới, là nơi có ý nghĩa to lớn cho sự sống, cho giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, giáo dục tinh thần yêu nước và đặc biệt cho sự phát triển kinh tế – xã hội – an ninh quốc phòng một cách bền vững. Do vậy Khu DTSQ thế giới Đồng Nai rất cần được sự chia sẻ và chung tay đóng góp công sức của mọi người, mọi tổ chức chính trị, xã hội trong và ngoài nước để Khu DTSQ thế giới Đồng Nai mãi tồn tại và phát triển hướng tới mục tiêu “Bảo tồn cho Phát triển – Phát triển để Bảo tồn”.